Quy định pháp luật về tội tham ô tài sản như thế nào ?

Câu hỏi

Quy định pháp luật về tội tham ô tài sản như thế nào ?

Trả lời

Thứ nhất, về tội tham ô tài sản

Căn cứ quy định tại Điều 353 Bộ luật hình sự năm 2015:

Điều 353. Tội tham ô tài sản

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

đ) Chiếm đoạt tiền, tài sản dùng vào mục đích xóa đói, giảm nghèo; tiền, phụ cấp, trợ cấp, ưu đãi đối với người có công với cách mạng; các loại quỹ dự phòng hoặc các loại tiền, tài sản trợ cấp, quyên góp cho những vùng bị thiên tai, dịch bệnh hoặc các vùng kinh tế đặc biệt khó khăn;

Theo đó, tham ô tài sản là hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn, chiếm đoạt tài sản mà mình có trách nhiệm quản lý. Chủ thể của tội này là người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan, tổ chức nhà nước và doanh nghiệp, tổ chức ngoài nhà nước, từ đủ 16 tuổi trở lên và có năng lực hành vi dân sự đầy đủ. Người có chức vụ là người do bổ nhiệm, bầu cử,… được giao thực hiện một nhiệm vụ nhất định và có quyền hạn trong công vụ, nhiệm vụ đó. Với những đặc điểm nêu trên, người nhà bạn có trách nhiệm quản lý tài sản là tiền truy lĩnh tuổi đảng lấy từ BTC huyện để về chia cho những người đủ điều kiện có tên trong danh sách.

  Hành vi trộm cắp tài sản bị xử phạt như thế nào ?

Thứ hai, về thời hạn tạm giam để điều tra

Trường hợp truy cứu trách nhiệm hình sự theo Khoản 2 Điều 353 Bộ luật hình sự năm 2015 thì có thể bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm, đây thuộc loại tội phạm rất nghiêm trọng nên theo quy định tại Điều 173 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:

Điều 173. Thời hạn tạm giam để điều tra

1. Thời hạn tạm giam bị can để điều tra không quá 02 tháng đối với tội phạm ít nghiêm trọng, không quá 03 tháng đối với tội phạm nghiêm trọng, không quá 04 tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

2. Trường hợp vụ án có nhiều tình tiết phức tạp, xét cần phải có thời gian dài hơn cho việc điều tra và không có căn cứ để thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp tạm giam thì chậm nhất là 10 ngày trước khi hết thời hạn tạm giam, Cơ quan điều tra phải có văn bản đề nghị Viện kiểm sát gia hạn tạm giam.

Việc gia hạn tạm giam được quy định như sau:

a) Đối với tội phạm ít nghiêm trọng có thể được gia hạn tạm giam một lần không quá 01 tháng;

b) Đối với tội phạm nghiêm trọng có thể được gia hạn tạm giam một lần không quá 02 tháng;

c) Đối với tội phạm rất nghiêm trọng có thể được gia hạn tạm giam một lần không quá 03 tháng;

  Sử dụng tên giả vay tiền có phải là lừa đảo chiếm đoạt tài sản không ?

d) Đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng có thể được gia hạn tạm giam hai lần, mỗi lần không quá 04 tháng.

Theo đó, với tội phạm rất nghiêm trọng thời hạn tạm giam là không quá 04 tháng, chậm nhất 10 ngày trước khi hết thời hạn tạm giam Viện kiểm sát có quyền gia hạn tạm giam một lần không quá 03 tháng, tổng thời hạn tạm giam là không quá 07 tháng. Trường hợp của người nhà bạn đã bị tạm giam hơn 01 năm là đã vượt quá thời hạn tạm giam tối đa theo quy định của pháp luật.

Thứ ba, về việc hỏi cung và đối chất trong giai đoạn điều tra

Căn cứ Điều 183 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 về hỏi cung bị can:

Điều 183. Hỏi cung bị can

1. Việc hỏi cung bị can do Điều tra viên tiến hành ngay sau khi có quyết định khởi tố bị can. Có thể hỏi cung bị can tại nơi tiến hành điều tra hoặc tại nơi ở của người đó. Trước khi hỏi cung bị can, Điều tra viên phải thông báo cho Kiểm sát viên và người bào chữa thời gian, địa điểm hỏi cung. Khi xét thấy cần thiết, Kiểm sát viên tham gia việc hỏi cung bị can.

Theo đó, việc hỏi cung phải tiến hành ngay sau quyết định khởi tố bị can. Ngoài ra, trường hợp có mâu thuẫn trong lời khai của nhiều người thì theo quy định tại Điều 189 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Điều tra viên phải tiến hành đối chất:

  Xử phạt hành vi đánh nhau gây rối trật tự công cộng như thế nào ?

Điều 189. Đối chất

1. Trường hợp có mâu thuẫn trong lời khai giữa hai người hay nhiều người mà đã tiến hành các biện pháp điều tra khác nhưng chưa giải quyết được mâu thuẫn thì Điều tra viên tiến hành đối chất. Trước khi tiến hành đối chất, Điều tra viên phải thông báo cho Viện kiểm sát cùng cấp để cử Kiểm sát viên kiểm sát việc đối chất. Kiểm sát viên phải có mặt để kiểm sát việc đối chất. Nếu Kiểm sát viên vắng mặt thì ghi rõ vào biên bản đối chất.

Đối chiếu quy định trên, khi có mâu thuẫn trong lời khai, dù đã tiến hành các biện pháp điều tra khác nhưng chưa giải quyết được mâu thuẫn thì Điều tra viên phải tiến hành đối chất.